Năm Thứ 4888
www.vietnamvanhien.org
 www.vietnamvanhien.net

www.vietnamvanhien.info
www.vietnamvanhien.com

 


  Nhóm mạng Việt Nam Văn Hiến xin được trân trọng lưu trữ và phổ biến những biên khảo và sáng tác của triết gia X.Y. Thái Dịch Lư Đông A, để tri ân sự hiện hữu của ngài trong ḍng sinh mệnh Việt cùng những đóng góp vô cùng quư báu cho nền văn hóa Việt
.



  Huyết Hoa
           X.Y. Thaí Dịch Lư Đông A

II-1- HỐI HẬN

Người ta đă tốn bao nhiêu lời lẽ ca tụng những cái lớn lao của thời Tam Đại nước Tàu cùng các cuộc 89, 17 của Pháp với Nga. Sau cuộc Phục Hoạt cổ điển Âu Châu, người ta đă đặt hai thời kỳ đó làm khuôn mẫu thế giới sử trên nhân loại học. Từ nhân đạo thành lập đến nhân đạo tăng tiến, chúng ta ước ao loài người bước lên một bước thứ ba để ổn định cái văn hóa ḥa b́nh của nhân đạo thực thể. Hai thời kỳ trên tuy nhiên trong hành tŕnh của nó dắt theo bao nhiêu những hắc muội của dă man cùng cực làm cái hối hận ray rứt của tâm hồn ảo năo cho đạo đức của Sử.

Một cái văn hóa trùm lấy cả Á Đông "Tiền nhân chủ nghĩa" thực hành chính trị tối khoa học của nông nghiệp và âm dương học trên "chữ Lễ" suy động bởi một cơ trí "Thiên Triều chủ nghĩa", "Hán tộc thiên hạ chủng tộc đế quốc chủ nghĩa" đem kết tinh hết cái cực thiện và cực mỹ vào một công cụ "Phong Thiện" để diệt chủng bốn chung quanh. Chúng ta c̣n được thừa hưởng cuộc đấu tranh thất bại của tổ tiên ta với ṇi Hán, cái vết máu nhơ nhớp và cột đồng Mă Viện.

"Đồng Trung Hoa đến mang làm cột".

Lại bây giờ người ta công kích cuộc 89 chỉ là sự cấy mạ của giai cấp phú hào. Nếu lấy con mắt thiển cận của biện chứng duy vật mà xét th́ người ta cho thế là phải. Nhưng lấy con mắt công chính lịch sử nhân loại tập trung mà nói, nó chỉ là cuộc vật lộn của chân lư. Sự chiếm lĩnh và hưởng thụ những tinh thần và vật chất công cụ của mỗi sự nghiệp tiến hóa trong tay mỗi người và mỗi ṇi tùy theo tính chất và xu hướng của nó mà phấn động với công ích thuần nhân loại, có phải tội của 89 đâu? Tuy nhiên cái cực thiện, cái cực mỹ của đời đó rớt lại cho con cháu Pháp Lan Tây đế quốc về sau này chỉ c̣n lại cái vô dân chủ suy động bởi cái "máy đoạn đầu đài", người ta gọi nó là guillotine không đúng, nó là "La Francaise", máy Pháp Lan Tây phải hơn.

"Máy Pháp Lan sang để chém người".

Stalinisme làm cho cuộc cách mạng 17 mất hết nhân loại toàn tính, nhưng mà cũng mang đến cho người Nga Sô một địa vị của Thiên Triều chủ nghĩa, Trung Quốc chủ nghĩa sô viết đội lốt Pierre Alexandre, tóm lại đội lốt Tsar Komintern, than ôi! chỉ là cái tổ chức hắc ám của Franc maconnerie tính cách Anh Cát Lợi. Cái biện chứng duy vật kia có cái tác dụng thời đại và địa phương của nó cũng như cái lư tắc cơ giới của thế kỷ XVII đẻ ra vô dân chủ, tuy không được đúng chắc, nhưng mà cũng vừa đủ để sửa soạn một cuộc tiến hóa, cống hiến một cuộc phản tỉnh về đời người ta trên thực tiễn, phê phán và tu chỉnh cho nhân loại một nền tảng kinh tế trên "phụ kinh tế" mà không "siêu kinh tế". Trên thực trạng của Nga Sô Viết, nếu Marx mang Nga quốc hóa đi được trên thực thể của biện chứng đó, đó là vấn đề kỹ thuật, th́ nghĩa là thực hiện một Thiên Triều chủ nghĩa Komintern, một thứ Tsarisme.

Thế giới muốn ổn định phải giác ngộ không một thiên hạ chủ nghĩa, hoặc đội lốt dân chủ, hoặc đội lốt Tam Dân, hoặc trắng trợn như Phát Xít hay hùng hồn như Nazi làm bận ḷng các anh. Đừng ngừng trệ, đừng theo đuôi, nếu Lăo Tử với Gandhi gặp nhau tất cũng đồng ư rằng chỉ có chủ nghĩa của các ông ấy như có thi hành ra được họa may mới có toàn tính nhân loại, thực thể nhân loại, mới cộng sản, dân chủ và nhân nghĩa được. Trotsky bị giết đi để chứng thực cho thế giới rằng Mác Xít chân chính đă bị chối bỏ.

Có cái ǵ qua các thời đại? Cách thức sống của các bộ lạc, các ṇi giống, các thời đại, các khuôn khổ. Người ta cần bàn tay với luân lư gia đ́nh cho nông nghiệp; người ta cần lư trí với bản lĩnh cho thương nghiệp, người ta cần lư tắc với vô đạo đức cho công nghiệp. Tổ chức Teuton bên Đức hay Lạc Chế bên ta đời Hồng Bàng c̣n vẽ được chân h́nh cái toàn tính của loài người. Như muốn xác định nữa, c̣n phải theo Lăo Tử với Gandhi. Sự sống của người ta y cứ vào người ta hết. Bởi v́ người ta sống trong vũ trụ; vũ trụ đó là đối tượng đại đồng của loài người. Người và vũ trụ trên nền tảng và điều kiện chủ khách quan sinh sản ra hết thảy. Tự ta quyết nhiên có cái bản lĩnh độc lập, tự do, sinh tồn ở ta đó. Bao nhiêu cái hoa mỹ, bao nhiêu cái tinh vi, bao nhiêu những năng lực và công cụ tinh thần với vật chất, hữu h́nh hay vô h́nh chỉ là những thuộc tính của sống c̣n Duy Nhân, Duy Dân chân lư ở trên cái nút tự tại trong vũ trụ kia. Thái cực, giác ngộ, chân như, thượng đế, cực chất của xă hội theo cái tính lưu động của loài người mà lưu động phải t́m đâu xa!

"Nhân đạo đừng mong quân lợm khẩu"

"Nhân quyền chớ cậy đứa xanh ngươi".

Quản Trọng nói câu: "Nước lớn nhiều th́ hợp các nước lớn vào đi đánh các nước nhỏ để làm bá đạo. Nước nhỏ nhiều th́ hợp các nước nhỏ lại đánh các nước lớn để làm vương đạo". Hăy hối hận, hăy luôn luôn đề pḥng và cảnh tỉnh cả ḿnh và mọi người để đi t́m nhân nghĩa và đạo đức. Dân chủ, vương đạo nếu chỉ nắm được cái vỏ của nó, cái bóng của nó trên bao nhiêu hoa mỹ, anh hùng vinh quang của nó mà mất thực thể của nó th́ trên hành động và nhất là lập ngôn của các anh sẽ chỉ là của độc sâu cay cho loài người mà thôi. Duy Dân chủ nghĩa như muốn thế giới hóa hay hợp hơn, đồng nhân hóa, phải làm cho thế giới mỗi người, mỗi ṇi nghiêm ngặt hiểu rơ những thống khổ và hối hận kia. Phải sám hối, phải nghiêm ngặt giữ ǵn cương thường Lạc Chế làm nền tảng tự lực trên hết mọi chính sách kinh tế, chính trị, xă hội và nhân chủng. Các thứ chế độ chỉ là ngành ngọn mà thôi. Đạo đức, nhân nghĩa, vương đạo, dân chủ như lột truồng ra, trút sạch một tấm ḷng yêu thương loài người trên thực thể, há chẳng phải chỉ c̣n một thủ đoạn khoa học làm khéo của giống buôn loài người, giết người, buộc người một cách văn minh "theo ư nghĩa dă man" ư? Cuộc Duy Dân cách mạng của ṇi Việt muốn là một "Kultur Kampf" cho nhân loại nguyên tắc toàn thế giới, nhân loại là một nhân đạo toàn tính mà không c̣n những độc chiếm hay tự do độc quyền như lối English Liberty, hay Liberté Francaise, hay hưng Hoa diệt Di được nữa.

II-2- TRƯỜNG HẬN

 
Đây là mối dằng dặc trường hận của cả một vũ trụ trường hận, tấm ḷng của cả một mênh mang sống vô bờ bến. C̣n ǵ nữa? Đă nghe kêu: O horror! O horror! O horror! Ôi gớm quá! Vũ trụ chỉ c̣n sau mỗi đổi đời, thất thanh kêu gào rít lên như vậy trong đáy ḷng mỗi con người Phật. Bao nhiêu linh hồn cũng như bao nhiêu thể sống chưa thành tựu đều t́m một an ủi, một ôm ấp trong cái hoài băo lớn lao của rỗng không vô t́nh đó. Một hữu t́nh lớn lao? Không phải! không phải chỉ riêng một loài người, một loài người con con, mỗi sát na, mỗi vi trần đều là thể sống, sống thực, cần phải thuyền từ, bác ái và tế độ. Nhưng mà chính thế đó, chúng sinh vô hạn lượng, tự cứu lấy ḿnh không cứu nổi ai. Mỗi phiền năo rất lớn ở trong cái vô ư nghĩa rất lớn của vũ trụ, ḷng đại độ mấu cứ vào cái ư nghĩa lớn trong cái vô ư nghĩa rất lớn lao đó.

Chỉ có rỗng không là rỗng không. Mỗi tư tưởng bắt rễ bén mầm trong cái sầu thảm của rỗng không đó, sống c̣n vô bờ bến. Hết cái bờ bến của vô bến đó có một bờ bến viên măn là sự yên lặng rất sống, rất sáng, rất cơ, rất thực, rất đẹp ngay trong đó là một công cuộc cứu vớt ở vô cùng trong luân hồi vũ trụ đó. Không, quyết không, thật không có cái ǵ là tài phán cuối cùng của ai hết; không ai làm chúa hết, chỉ có ḷng Phật làm chúa mà thôi!

Tất cả vũ trụ phải được cứu, sự cứu vớt ấy luôn luôn không dứt. Mỗi vi trần và mỗi sát na hờn oán, đau khổ, tối tăm, mê mẩn, sợ sệt, tức bực là chỉ đều quay về hết ḷng từ bi vũ trụ, đă đồng nhất hóa với cái bản thể vũ trụ rất sống, rất sáng, rất cơ, rất thực và rất đẹp. Im lặng và nhắm mắt lại, im lặng cứu lấy vũ trụ hồn nhiên, cứu lấy, sao không cứu được mau! Không cuộc cách mạng nào lớn lao đến để cứu vũ trụ ư? Chịu để cho vô thủy, vô chung giày ṿ măi sao? Nhắm mắt lại, hăy im lặng làm hết những cái anh có thể làm được đi. Đóa hoa xuân đă nở, đợi mùa thu sang rọi ánh trăng tṛn. Xuân với Thu luân hồi nhau măi, măi măi vũ trụ c̣n dằng dặc cái trường hận đời đời! Thích ca đă thất bại một cuộc cách mạng. Jésus, Lăo, Marx đều đă thất bại cả, để lại một bài thơ Thu Nguyệt Xuân Hoa! Ôi gớm quá! Ôi gớm quá! Ôi gớm quá! C̣n ǵ nữa? C̣n ǵ nữa?

Những lợi hại thị phi, thiện ác, buồn vui, sống chết của vô thường! Nhưng mà Phật hăy c̣n, c̣n luôn luôn, ngày ngày c̣n, măi măi c̣n, c̣n luân hồi của cái vũ trụ trường hận ấy. Phật vẫn c̣n, c̣n ǵ nữa? Đâu là Thích Ca? Chỉ c̣n có mỗi cái phiền năo sầu thảm của trường hận vũ trụ đời đời! C̣n cái phiền năo đó, c̣n nhiều Thích Ca và là Thích Ca những ai đă cứu được cái phiền năo đó. Tiếng gọi của Sử, như một tiếng động vang trong sương ra tỉnh vào mê, không dứt dào dạt với muôn đời gọi lên một hồn nghĩa vụ. Sự đào thải với tái sinh qua các cuộc mưa nắng Xuân Thu biểu hiện lên một t́nh cảm, đó là tâm sự của Sử. Tất cả những lời máu và thủ kư của Sử đó c̣n lại với tiếng gọi và tâm sự của ṇi giống ở trong cái di sản toàn bộ của Sử. Thử hỏi di sản của Sử có những ǵ? Cả một ṇi giống trên sự thực sống biết, sống tinh thần và vật chất theo một phương châm dẫn dắt bằng một linh hồn của sống ấy, nghĩa là cả một thiên hạ hiện tại để làm cho ngày mai và cả một thiên hạ ngày mai làm cho ngày kia nữa. Tất cả những chuốt lọc thiên nhiên và nhân vi trong đời người đă để lại của quá khứ những ǵ làm nền tảng và điều kiện cho ngày nay. Lê Văn Hưu cũng như Trần Hưng Đạo, Hàn Nguyễn Thuyên cũng có ư nghĩa như Lê Thái Tổ làm nên cả một truyền thống của ḍng máu Việt.

Những chất liệu linh hồn ấy đă ḥa thân vào ư chí sống chung và cả đời đời thành những lượng tử (quantum), năng tử (neutron) hoạt động hơn, nó chuyển động tất cả một kết cấu nguyên h́nh chất (protoplasma) của ṇi giống, một văn minh trọn vẹn và đầy đủ, ví như văn minh đời Hồng Đức đặt cái cương thường trăm thuở (24 điều giáo hóa) làm đề cương cho pháp luật. Dưới cái cương thường đó tổ chức nên một sinh mệnh chung cả của đạo đức, văn đức, vũ công và kinh tế. Lịch sử c̣n chuốt lọc và mài giũa nên mỗi chủ lực của đời thuở làm lơi chốt cho quốc dân. Thế hệ ngày Bông Lau c̣n phục hoạt lại ngày B́nh Ngô, mỗi văn minh trên vận hành của Đại Việt ta không dứt bằng khởi điểm của nó, không giờ phút nào ngơi. Chu Văn An cũng như Nguyễn Du, di thần nhà Lê cũng như di thần nhà Trần đều là những hạt giống khí tiết và những mô phạm của chân tài tử chỉ có những sĩ khí tiết và những chân tài tử, mới sống được ở trong sự sống của hồn Sử và quốc hồn.

Lư tưởng của Sử nở lên như một bông hoa Tổ hồn, văn minh là như thế. Hồn của Sử là hồn đáy tầng của ṇi giống, đáy ḷng mỗi người, đáy sống của Tổ Tiên truyền dơi măi măi. Hồn của Sử thiên vạn cổ c̣n nhắc đi nhắc lại trên truyền thống của loài người một cái ám ảnh sáng ngời trong tâm lư.

"Tri ngă giả kỳ duy Xuân Thu hồ"

"Tội ngă giả kỳ duy Xuân Thu hồ"

Ôi! Cảm được thấu cái tâm sự Xuân Thu đó nghĩa là sống bằng Hồn Sử, không ra ngoài hồn của Đạo, của Sử muôn thuở. Trung với quốc gia, hiếu với ṇi giống "tôn quân phụ" trên nền nhất thống, đ̣i cuộc độc lập, đuổi giặc xâm lăng, trừ giống hủ bại, dẹp quân phản động diệt đàn phá hoại, đ̣i nhất thống, thảo loạn tặc, giữ nắm cương thường, tôn trọng thể chế, làm chính ḷng người, rửa sạch tà thuyết với dị đoan, làm cỏ tà đảng với gian đảng, tôn phù lẽ công, sáng tạo lư cụ (outillage) và khí cụ (matériel), vót nhọn vũ khí ư thức làm nên vô lậu quốc pḥng, chấn chỉnh văn minh chính nghĩa, làm nên tĩnh độ ḥa b́nh đấy là sứ mệnh của Xuân Thu. Ôi! Công việc của thánh với vương, nhưng mà trách nhiệm của bố cu mẹ đĩ hết cả với cuộc hưng vong tồn tục của loài người và của ṇi giống. Người ta cũng như con vờ, sống ngắn ngủi như thế, nhưng mà sống vô cùng, v́ loài người c̣n sống măi măi, mỗi con vờ có ư thức và tư tưởng là một tế bào hoạt động của sinh mệnh Xuân Thu. Người ta cũng như con dă tràng xe cát bể Đông, nhọc ḷng mà không công cán như thế, nhưng mà là có công cán lớn lao v́ loài người c̣n nhớ măi công cán của mỗi con dă tràng ấy! Người ta cũng như con thiêu thân chui đầu vào lửa mà chết. Nhưng mà mỗi sự hy sinh cho ánh sáng của loài người là mở đầu cho mỗi đun đẩy văn minh đó. Vai Atlas có ai khiến vác quả địa cầu? Chu Văn An thế mà dâng biểu giết nịnh! Những công việc đó đều là công việc của Hồn Sử ngh́n Xuân Thu, của tất cả loài người cũng như của mỗi dân tộc.

II-3-ÁI HOA

Tất cả những tài năng đạo đức chỉ là hương thơm của đóa hoa Nhân Ái nở măi không tàn. Nhân ái một khi được sáng suốt viễn kiến, chế độ hóa, thực tiễn hóa, quy củ hóa mới chân thực là nhân ái có thực hiện thực thể cho loài người và vũ trụ. Đóa hoa nhân ái là cả một kiến trúc lẫy lừng của lư tưởng, cái lư tưởng lập thể của nhân loại. Đóa hoa nhân ái thấm vào thấu suốt mỗi sinh mệnh làm cho những tiếng gọi sứ mệnh, tiếng gọi vô thanh, vô h́nh. Chỉ có hương thơm, hương thơm của nhân ái. Nhân ái mà cũng đến bị bài xích, bị lợi dụng, bị chiêu bài, bị đầu cơ, thôi hết cả! Mà đến thế, trời đất mà đến thế. Ai là những người kỳ ưu thiện ư?

Đóa Ái Hoa c̣n là đóa trí tuệ hoa. Bây giờ ta mới chân thực hiểu thế nào là sinh tri. Sinh tri chẳng phải là nghiêm ngặt và ấu trĩ đẻ ra đă biết, biết từ mới đẻ. Sinh tri là trí tuệ tự sinh, sinh ngay bằng sự bừng nở cửa trí tuệ. Chữ giác ngộ của Phật cũng cùng một ư ấy. Tịch chiếu, hội quan, quán thông, quán tưởng, trầm tưởng, mặc khải đều là những thuộc từ của sự sinh, sự tri... Phải là một sinh mệnh dàn dụa nhựa sống, đầy dẫy ánh sáng của xuân t́nh mới nẩy nở ra cái cơ sinh tri đó được.

Đóa Ái Hoa c̣n là đóa ngữ hoa, giải ngữ hoa, giải hoa ngữ, ngữ giải hoa, hoa với ngữ như sát chặt với nhau trên sự thăng hoa tuyệt diệu và tột bậc của vóc tinh thần thiết diện, linh thiêng ở những lời hùng hồn của từ bi hay của nhân ái hoa là tri âm hoa với tri âm ngữ, cái tinh kết của sinh mệnh đời đời, khúc nhạc của vận động thuở thuở.

Vườn xuân của đời nhân ái hoa nở đầy lư tưởng hoa: xuân thu hoa, ái hoa, tri âm hoa, trí tuệ hoa; tiếng đồn dậy: tri âm ngữ, đồng chí ngữ, ái ngữ, lư tưởng ngữ, vong quốc hoa (Nam Thi) phải là nhịp uyển quỳnh đủ cả t́nh tang của muôn tiếng.

"Thiên hạ vạn nhi tranh hồng tử"

"Thùy thức kiền khôn tạo hóa tâm".

Người Việt tri âm hăy lặng ngắm quốc hoa Việt, hăy đọc quốc ngữ Việt, ái nhân, nhân ái, chúng ta mới biết được rơ ràng là tri âm ngữ với tri âm hoa của Ái Hoa.

II-4- BẠCH VÂN

 

Những tầng lớp mây trắng bay đùa sao mà xúc cảm thế. H́nh ảnh của vận động tang thương không ǵ năo nuột và bực chán bằng mây trắng.

"Tiết ǵn thiên cổ t́nh khôn dăi"

"Óc tính trăm năm gan dễ phơi"

Mây trắng bay trên trời không c̣n ngăm măi ở ḷng người, c̣n ngăm măi ở đời sống người, ngăm măi trong thâm đáy của ḍng đời nay đă in bóng xuống nước, mây bay nước chảy nhưng mà nước c̣n măi tâm t́nh mây. Những từng lớp thế hệ dằng dặc kéo vào thâm đáy của quá khứ. Không, không, thời gian không chảy xuôi, thời gian rút ngược lại, từ bây giờ trở lại, từ ngày qua trở lại, nó kéo dồn dập về sau lưng ta. Ta đi xuôi, ngược lại cái sống ngược lại, những tầng lớp thế hệ kéo ùa vào quá khứ, nhưng mà h́nh ảnh và tác dụng c̣n tích cực khuấy động đời đời.

"Trúc lụa đă dày phen trị loạn"

"Son xanh c̣n chiếu dạ hơn thua"

Những linh hồn xưa c̣n kư ngụ vào làn Bạch Vân trên sử Xuân Thu không dứt, những linh hồn của các tầng lớp chiến đấu đời đời. Có những chiến sĩ làm việc dương chu, có những chiến sĩ làm việc âm phát, có người làm việc hữu h́nh, có người làm việc vô h́nh, có những công việc đă hiểu rồi, có những công việc vẫn tưởng vi mang, có những tinh chỉ chế độ thúc đọng lại, vùng vẫy hay tản mạn trong đáy ḍng sử, sống trong đáy hồn, đáy tầng.

"Kéo lớp lớp trên am Bạch Vân

Mà c̣n cái ǵ? Những cái sống

Mà v́ cái ǵ? V́ những cái bởi"

Người ta tưởng tượng như đứng cung kính kiên thành trước bậc đền Delphe, nghe cảm hứng lấy những tiếng của đời xưa theo cái ḍng sống người ngược lại, cái ḍng sử ngược vang vọng lại hiện tại để mà nghe cảm hứng lấy những tiếng vi mang đó ở trong mỗi động tác, mỗi cái tầm thường, mỗi cái ngây ngốc, mỗi cái ngu si, đến cả mê tín của đời đáy tầng, tức là nghe cảm hứng lấy Tổ hồn, Quốc hồn, Sử hồn, kể chi những tiếng ai oán, những tiếng ước vọng, những tiếng hằn học, những tiếng ḥ kêu, những tiếng thúc giục.

Ư chí chi mà ư chí thâm

Ư ai mặc ư hóa công thâm

Đương cơn lửa lạnh thâm đầu rót

Chắc có c̣n thâm với hóa tâm

Ở trước bàn thờ của các thế hệ trước mà dân Việt đang c̣n sùng kính, há không phải những tiếng thực tế ư?


II-5- UYỂN HỒN

Thôi chúng ta biết cái tác dụng lịch sử tàn ác, cái cấu tục sinh ra ṇi Hồng Việt và bắt ṇi Hồng Việt than, bắt ṇi Hồng Việt hỏi, có ai giải cứu cho người Chàm, người Thổ, người Mường? Chỉ có người Hồng Việt. Đau đớn thay dân Ngái, dân Mường, dân Thổ, dân Mán, dân Kha, dân Mèo, dân Nùng ṇi giống của chúng ta. Một tiếng chuông chùa hồi thôi vừa hồi, bây giờ không c̣n được nữa, chính là chỉ đồng vọng tiếng khèn, tiếng hận của Mế Hê, tiếng ḷng của Khu Lân, Khu Lân người anh hùng cứu quốc của Đại Việt. Có ai biết cái tiếng của đất nước ṇi đường ngược? Có ai c̣n nghe thấy cái tiếng ấy? Một làn gió lạnh của Hồn Uyển!

Tôi đă không tiếc sao sinh ra loài người Hồng Việt nữa, nhưng mà tôi c̣n tiếc sao trong bao gian nan của tôi không cho tôi những rỗi th́ giờ đi bát bộ mẹng, đi hát trống quân, đi hát đúm, đi hát ví, đi rước nước, đi nghe đàn cồn, đi săn linh hồn của tôi nữa, và nữa, vào cả những núi đá kia, những vườn xanh kia, những đống củi kia, những tháp tàn kia, những lều tranh kia, những ruộng đỗ kia, để mà được hiểu hơn nữa, và nữa, những linh hồn ấy nói ǵ? Muốn ǵ? Hỏi ǵ? Tiếc mong ǵ? Nước chảy xuôi, gió thổi xuôi! C̣n trong không c̣n nữa, sống trong không sống nữa! Ghê gớm chưa cái đăi lọc muôn đời !!!

Ấy đấy, cả một tâm trạng Bách Việt chỗi dậy sống lại trên đời mới. Tôi không tiếc được nữa tại sao chúng ta không sinh làm người Mường, người Mán, người Thổ, người Lào để cứ làm chủ nghĩa Bách Việt Duy Dân? Nhưng mà đất nước hăy c̣n, không c̣n mà thực c̣n ở trong ḷng của cơi chết để làm cái đáy vực, cái rốn bể của tiến hóa. Chúng ta cả Bách Việt cứ giác ngộ Bách Việt và ṇi giống ấy là đă chân chính sống lại đó, sống sâu sắc, sống triệt để, sống sáng quắc, sống bộc liệt, sống oai hùng.

Người Phi Châu rồi sao? Nói ǵ đến người da đỏ rồi sao? Ai hát lại chiến ca của người da đỏ? Ai hát lại xa xam của người da đen? Những câu hỏi mỉa mai đó nó lật nhào hết cái đạo đức kỳ quặc của văn minh thế kỷ XVII, XVIII, XIX, XX Gia Tô lịch.

Người Atzèque sống lại hay người Mexique trôi tàn? Âu Châu của ṇi Hy La c̣n măi hay Âu Châu của người Barbares sống lại? Đều là những nghi ngờ thiên vạn cổ, hóa công vẫn giải quyết ngầm.


III-1- THỜI ĐẠI


Duy dân biện chứng đặt để nền tảng của một lư luận đúng đắn về xă hội với thời đại nó cắt nghĩa được rành mạch và thực tại hết thảy hiện tượng của lịch sử trên sự thực của sự thực, chối bỏ được hết những sai lầm của duy tâm, duy vật, duy sinh với thực dụng chủ nghĩa.

Trào lưu của thời đại gần đây gồm có ba:

1. Quốc tế cực quyền chủ nghĩa (Totalitarisme International).

2. Quốc tế tư bản chủ nghĩa (Capitalisme International).

3. Quốc tế cộng sản chủ nghĩa (Communisme International).

Cực quyền nắm chủ động được trước v́ nền tảng xă hội của các nước Đức, Ư, Nhật: với ḍng sống lịch sử của họ quy định một bước đi thời đại cấp tiến hơn, ở đó có một chuẩn bị sớm và nắm quyền chế phát. Đến năm 1942 trở đi, tư bản trở lại nắm được chủ động từ trong nội dung kinh tế bền dai, rộng răi và tiềm lực của họ. Cho nên ngày Nga bị lôi cuốn vào chiến tranh, rồi đến ngày Nga tuyên bố giải tán Đệ Tam Quốc Tế trước khi Trotsky bị đồ đệ thân tín của hắn va một búa ám sát (Đệ Tứ Quốc Tế trong ṿng vỡ lở hẳn), và từ trước khi đó nhiều năm, Cộng Sản không nắm được quyền tả hữu của thời đại. Sự vận động của lịch sử triệt để đào thải sức đứng thứ ba, cho nên, nếu Cộng Sản không bị tiêu diệt hẳn với Trục tâm thắng, th́ bị đồng hóa với Đồng Minh thắng, điều này đă dự đoán trước một cách chắc chắn từ 1939, càng đi với thời cuộc diễn tiến càng chứng thực không sót.

Sự đấu tranh gay gắt của hai mặt trận chủ động cực quyền và tư bản bằng tiêu hao, giết tróc, và kéo dài, quy định nên một cuộc rối ren không thể bằng sức người cứu vớt lại được, nó làm cho dù bên nào thắng lợi trên chiến tranh cũng sẽ thất bại đau đớn trên ḥa b́nh; bằng cái t́nh thế rối ren đó, cuộc đóng cơi (frontières fermées) làm bằng cuộc hướng tâm cách mạng dự đoán từ 1939. Những nguyên tắc dân tộc và nhân tố tâm lư đi sát với diễn tiến tất nhiên của kinh tế, văn hóa, chính trị và xă hội làm cho hướng tâm cách mạng trọn vẹn. Các dân tộc nhỏ yếu với các giai cấp đau khổ lúc ấy sẽ là những lực lượng mới ra sáng tạo một thời đại mới 2000.

Nguyên lư của ḍng sống máu một dân tộc có thể lấy cái nguyên lư của thủy lực học (science hydrolique) mà chứng minh. Làn gió đáy sẽ thổi dạt dào các luồng sóng đáy, sức nước nguồn từ mỗi vỡ bờ sẽ bằng tất cả cái sức mạnh của các bế tắc thời đại với lượng nước bị ứ tắc mà vỡ lở ra trong một phạm vi quy định bởi sức lực, quy tắc và tinh thần nội tại. Một cuộc nổ bùng 1793 và Napoléon thức (éruption napoléonienne) sẽ đặt để một văn minh Vạn Thắng mới của ṇi Việt từ muôn năm. Các lần vỡ bờ từ Đinh, Trần, Lê, Nguyễn Huệ sẽ tái diễn trên một nền tảng to rộng và cao độ hơn bằng cả một sức lực lịch sử và nhân chủng tích góp, theo lư tắc Totem Rồng Tiên của Bách Việt vạn năm trước mà giải quyết vấn đề Đông Nam Á, tức là Đại Nam Hải Á Úc Châu một cách thỏa đáng. Các ṇi chi tiếng Môn sẽ lập lại một trung tâm của sống c̣n mới.

Ấy, thời đại này trên cái văn hóa quốc pḥng khoa học, quân sự, công nghiệp tư bản chủ nghĩa kinh tế, diễn tiến bằng cái trào lưu là như thế, đặt để bằng cái h́nh thế của giai cấp và dân tộc toàn thế giới là như thế. Duy Dân biện chứng pháp chối bỏ lối trông thời đại của duy tâm là xâm lược với phản xâm lược hay quốc dân chiến tranh, lại chối bỏ lối xem thời đại của duy vật là tư bản với vô sản hay giai cấp cách mạng, đồng thời c̣n chối bỏ nốt lối xem thời đại của thứ triết học duy sinh phiến diện (superficielle), b́nh diện và thực dụng (empirique) là chính trị đấu tranh thường phát sinh ra từ hội nghị nọ hay ḥa ước kia.

III-2- CHIẾN TRANH


Triết học duy tâm cắt nghĩa cuộc chiến tranh này là do dân tộc tính ăn cướp của Đức, Ư, Nhật gây nên, bởi thế bóc lột hết thảy các công cụ và các cơ năng chiến tranh của Trục tâm là cần yếu, đồng thời các triết học loạn đời với tất cả các tinh thần cừu hận cũng phải làm cho mất tích.

Các nhân sĩ gọi là khai minh hơn và lối triết học thực dụng duy sinh cho là các nước dân chủ ăn no quá quên cả pḥng bị mà gây nên. Riêng phái duy vật cho và dự báo trước bốn nguyên nhân:

1) Đế quốc chủ nghĩa mâu thuẫn với đế quốc chủ nghĩa.

2) Đế quốc chủ nghĩa mâu thuẫn với dân tộc bị bóc lột.

3) Tư bản chủ nghĩa mâu thuẫn với Tô Nga.

4) Đế quốc chủ nghĩa từ trong nội bộ có tư bản giai cấp mâu thuẫn với vô sản giai cấp.

Duy Dân chủ nghĩa chính đính và chứng thực rằng cuộc chiến tranh này chỉ là cuộc tranh bá chiến của hai mặt trận đế quốc cực quyền với tư bản dân chủ giả xúc tiến và chứng thực bằng lư luận và thực tiễn của quốc pḥng kinh tế trên các nền tảng triết học của tư bản tái sinh sản chính trị hóa (reproduction du capital). Trật tự mới của Âu Châu, trật tự mới của Á Châu cũng như khu vực tổ chức tập đoàn kinh tế trên các hiệu triệu chiến tranh của chính trị địa lư học, đi theo với thuyết sinh tồn không gian (espace vital) hay tiến lên một bước là thế giới liên bang (Fédération internationale) có một tổ chức đằng sau phải là một hậu thuẫn bằng vũ lực, đấy là mục đích tác chiến của cả hai phái trong giai đoạn thế kỷ hai mươi này (sẽ nói rơ trong vấn đề Chiến Hậu). Sự khống chế thế giới phát sinh từ cái nhu yếu của mỗi dân tộc đă đến cực điểm của văn minh tư bản và vật chất. Sáu vấn đề nền tảng của thế giới (xem tuyên ngôn ngày thành lập Tổng Đảng Bộ) ví như không giải quyết được triệt để th́ vô luận một hiệu triệu giả dân chủ hay giả chính nghĩa nào cũng chỉ là ngoài mặt để che lấp cho sự thực của phát triển xấu xa và tội ác tự nhiên tất có của văn minh cũ đă thối nát.

Nếu nói cuộc chiến tranh này là thần thánh chiến do cái mâu thuẫn của đế quốc chủ nghĩa mâu thuẫn với dân tộc thuộc địa th́ chỉ là nói mơ, hoặc tiến lên một bước là thay đế quốc đánh lừa dân thuộc địa cho tưởng có phần vinh dự của ḿnh vào để mang nhân mệnh và tài sản ra đỡ đạn cho ăn cướp lịch sử.

Tội t́nh! Sự phân tán một đống của có phải là ở kẻ có của yếu ớt gây ra sao? Cuộc chiến tranh lần này dân tộc nhỏ yếu là chủ động gây nên với đế quốc? Cuộc mâu thuẫn giữa dân tộc thống trị với bị thống trị là động cơ của giặc giă? Dân tộc bị thống trị có đủ vũ lực và chủ động ra tuyên chiến với đế quốc? Một dân tộc từ thiện nào để cởi mở cho các thuộc địa bị đè nén mà gây chiến tranh? Muôn lần sai, ngh́n lần lầm.

Chỉ có một cuộc chiến tranh thuần túy do mặt trận thế giới các dân tộc bị áp bách đánh giết mặt trận ăn cướp thống nhất mới gọi là cuộc thần thánh chiến tranh đó.

Có người nói Trung Hoa đánh Nhật Bản, đó là tiền tiến và đặc chứng của trận giặc lần này, có biết đâu Tàu với cuộc cách mạng Tân Hợi chỉ là một nước "Thiên hạ chủ nghĩa" lối cũ, đế quốc chủ nghĩa lối Á Đông để thích ứng với cách thức và đường lối mới của đế quốc chủ nghĩa mới là xâm lược chủ nghĩa lối Âu Mỹ, trong giấc tự tỉnh của "con sư tử ngủ" tự trở ḿnh dậy để đi kịp trên con đường chinh phục mới mà quán triệt cái truyền thống tanh hôi của ḿnh theo lịch sử, cái đó chứng thực với bức thư kiến nghị của Tưởng Giới Thạch gửi cho Tôn Văn yêu cầu mặc nhận hiện trạng ngũ tộc ở Tàu và bỏ chủng tộc cách mạng đi để quán triệt mục đích Hán bằng chiêu bài, bằng quốc dân cách mạng, lại chứng thực bằng ư chí, thái độ và hành động khi cách mạng của chính phủ Tưởng mà biết chắc.

Lại có người nói cuộc cách mạng Ấn Độ là đặc điểm cuộc chiến tranh này, có biết đâu là trên sự thực và phản ảnh của sự thực ấy là bao nhiêu lần thanh minh của chính phủ Anh, Ấn Độ chỉ là vấn đề nội bộ trong đế quốc Anh. Khoảng 1940 đến 1942, từ lúc Nhật Bản để gót đến Miến Điện, trực tiếp uy hiếp cửa ngơ cái kho lúa của Anh, với Đức đánh sát vào Caucasie, hai bên ḥ reo xông vào cướp giật hạt ngọc trên đế miện của Anh, lúc bấy giờ v́ chính lược và chiến lược thế giới, Ấn Độ trong địa vị cố nhiên trọng yếu của ḿnh cho số phận toàn thế giới tư bản mà được Tàu, Mỹ, Nga chú ư mà hô hào thôi, há phải là Ấn Độ gây ra cuộc chiến tranh này? Đức, Nhật cuối năm 1942 hết sức và thất bại trong kế hoạch hội sư ở Ấn Độ. Ấn Độ vấn đề cảm thấy thế nào? Ấn Độ địa vị lại trở lại một nội bộ nhỏ xíu, bị khinh miệt, bị giày ṿ trong đế quốc Anh vậy. Nhưng đứng về mặt Ấn Độ cách mạng mà nói, thực tại Ấn Độ chẳng tán thành Anh, cũng chẳng tán thành Đức với Nhật. Ấn Độ chẳng tán thành một cuộc chiến tranh nào duy tŕ đặc quyền (Nehru). Ấn Độ đứng dậy cởi mở cho toàn thế giới bị bóc lột kể cả người da trắng bên trong bằng sự chiến tranh với toàn thế giới (Gandhi). Thái độ với ư chí ấy chính là đại biểu cho con đường đi đúng đắn của dân tộc nhỏ yếu suốt địa cầu, tiếc Ấn Độ chẳng phải là sức liên hợp to tát tất cả các dân tộc đó, lúc này chẳng phải là đại bản doanh của mặt trận ấy, cũng chỉ là tiên phong và cục bộ nhỏ của mặt trận ấy chưa hết lộ mặt mà thôi. C̣n nếu như nói có dân tộc nhỏ yếu nọ, dân tộc thuộc địa kia tán thành mẫu quốc hay lănh đạo quốc, hết sức tham gia cuộc chiến tranh này để mong có một thí bỏ về giải phóng hay độc lập, sự tán thành đó bằng vô tri hay ngơ ngác, hoặc là cử động đầu cơ của một lũ hoạt đầu, hoặc bị đè nén cực chẳng đă phải đem con, em, gạo lúa... của ḿnh nộp cho đế quốc, chẳng phải một phần ngàn nào đại biểu được lịch sử và ư chí của toàn thể dân chúng đó.

Đế quốc chủ nghĩa mâu thuẫn với Tô Liên ư? Tô Liên trên cái hiện thực của phương châm dân tộc tư bản tập trung chủ nghĩa chẳng phải là cớ của cuộc chiến tranh này. Tô Liên chỉ là một phần tử lạc loài và phản động không bị tiêu diệt bởi cực quyền th́ bị hỗn hóa với tư bản quốc tế. Tô Liên trong cuộc chiến tranh này chỉ là thứ yếu và bị động. Sách lược gia truyền của Lénine là đợi các đế quốc đánh nhọc lả sẽ một tay hoàn thành cả cách mạng vô sản hoàn cầu đă thất bại. Những hành động bất trí trong ngoại giao với Nhật, với Balkans (đứng địa vị khách quan của mặt trận vô sản thế giới mà nói) đủ tỏ rơ cái bàng hoàng của Tô Liên đứng ngă ba. Tô Liên trong cuộc xâm Ba, xâm Phần và càng ngày càng đi sát Anh, Mỹ, Tàu, càng tỏ rơ Tô Liên chẳng phải là thế giới đặc biệt, đi đôi với chính lược lui một bước lên hai bước chỉ có thực tiễn thất bại. Ai bảo Tô Liên là chủ động? Ai bảo Tô Liên là tổ quốc của toàn vô sản thế giới? Lại nói các mâu thuẫn nội bộ của tư bản với vô sản giai cấp trong mỗi đế quốc làm nên trận giặc này? Vô sản Anh v́ Anh, vô sản Mỹ v́ Mỹ, Đức v́ Đức, Nga v́ Nga, Tàu v́ Tàu, Nhật v́ Nhật trong cuộc quyết thắng của vận mạng giống ṇi với cuộc đánh bạc máu sắt ngày nay. Cộng sản Anh yêu cầu từ 1921 tới nay bao lần vào công đảng đều bị cự tuyệt. Sự im lặng của toàn vô sản thế giới đối với Nga vào trận, sự ám sát Trotsky bởi đồ đệ thân tín càng làm cho cuộc cách mạng thế giới càng chậm lại thế kỷ. Sự đột nhiên giải tán đệ tam quốc tế càng chứng thực. Các Cộng Sản đảng các nước từ bao năm nay mỗi ngày mỗi xu hướng vào cách vận động bằng h́nh thái dân tộc càng được chứng nhận. T́nh thế các giai cấp toàn thế giới càng cho ta một nền tảng phán đoán đúng chắc nữa (Xem nói về Cộng Sản ở dưới). Các cuộc băi công ở Pháp (Marseille và Paris ) chỉ là phong trào ái quốc. Sự thỏa hiệp của Cộng Sản đảng các nước với chính phủ chiến thời của mỗi nước, sự chia rẽ của Cộng Sản đảng Pháp vừa đi với Vichy lại vừa đi với De Gaulle, đều là những hiện tượng đau thảm của vô sản trên lư tưởng bằng đấu tranh không có phương pháp sáng suốt và ỷ tựa chắc chắn. Các cuộc băi công ở Mỹ không phải do Cộng Sản gây ra, hoặc phần nhiều là do hành vi của cô lập sai khiến, đồng thời là những hành vi càng khiến cho Mỹ trên chế độ dân tộc tiến vào trạng thái dự trước của Duy Dân chủ nghĩa về chiến hậu.

Cuộc chiến tranh đă thế cũng chẳng phải là do tính ăn cướp của một vài dân tộc, hay do sự ăn no ngủ kỹ của một vài nước trọc phú. Nó có một căn nguyên lịch sử của Duy Dân biện chứng pháp.

Cuộc chiến tranh này thuần túy là cuộc tranh bá chiến của hai phe đế quốc. Sự thất bại của họ trên ḥa b́nh chính là thời cơ nhằm đúng của hướng tâm cách mạng, một con đường mới cho đời sống thế giới mới trên con đường lịch sử phải đi triệt để của các nước ṇi nhỏ yếu hợp với giai cấp bị bóc lột, chỉ có thời cơ đó chân chính là một dịp sống mới của loài người mới thuế biến, đột biến và đặc biến.


III-3- CHIẾN HẬU

Cái nhược điểm của trào lưu Cộng Sản tức là đệ tam quốc tế dưới những áp bách của h́nh thế thực tiễn mà giải thể (1942) sau khi cái nhược điểm của Dân Chủ Cộng Ḥa trận doanh là Pháp bị đả đảo (1939). Nhược điểm của Phát xít trận doanh là Ư Đại Lợi vỡ lở năm 1943 (8/1943) mở đầu cho cái nhược điểm to lớn nhất, bên nào cũng phải cần, cần để rồi không tránh được đó là sự thắng trận. Như đă nói từ 1939, chủ động giật lại phía Dân Chủ tư bản thế giới, mặt trận từ sau này mà đi tṛng trành giữa lợi thế về chiến lược trên địa giới của Nhật với bức lũy sắc Âu Châu của Đức. Đức có thể thua được trong ngoài 1945. Nhật bị nội bộ Đông Á giải thể trong ngoài 1946. Từ đấy thống trị bởi sự thắng trận. Thắng lợi là chuyện tất yếu của chiến tranh, sau đấy nó có thể mang đến sự thất bại của ḥa b́nh. Anh với Mỹ có thể liên hợp thành một chủng tộc liên bang, lấy kinh tế ra đè ép và buộc chặt thế giới, hoặc Anh vẫn là Anh đế quốc kiên quyết cự tuyệt những nguyên tắc Đại Tây Dương ứng dụng vào nội bộ của ḿnh, Mỹ vẫn là Mỹ đế quốc thực hành xong "monroisme" mà cương quyết đ̣i môn hộ khai phóng toàn thế giới. Hai đế quốc ấy đứng trên một hàng trận có mâu thuẫn bên trong như thể chia đôi bá quyền toàn thế giới. Sự giải quyết chung nhau của Anh, Mỹ với vấn đề Nga xúc tiến nên hội nghị Moscou (10/1943) ở đây Anh, Mỹ muốn cho xong vấn đề Đông Âu, Nga đánh Nhật và đánh Đức một thể, vấn đề Turquie và Cận Đông, Anh với Mỹ trong cuộc lăng giải, như là khắng khít như thế, thực tại v́ đại địch đương tiền, đại địch hiện nay là Đức, Ư, Nhật, đại địch tương lai là Nga, đại địch giả định cho tương lai nữa là Tàu. Tàu tuy bị gọi là một trong tứ cường nhưng mà sự lăng bỏ khinh miệt với sự dè dặt và sự đề pḥng càng ngày càng phải tăng. Cái h́nh thế nước Tàu phóng trông ra tương lai, 20 năm sau 1944 chẳng hay ho ǵ. Những dă tâm của Tưởng Giới Thạch biểu hiện từ trong ra đến ngoài rất đáng kinh khủng cho toàn nhân loại. Những vấn đề Tàu yêu cầu chiếm lĩnh Việt và Hàn ở Washington và yêu cầu các quyền lợi chính trị với kinh tế các phía có Hoa Kiều (nhất là Nam Dương) chưa đủ để cảnh tỉnh Anh, Mỹ hay sao? Tất cả tuyên ngôn đường mật chỉ là đánh lừa và là thừa cho những nhà quan sát chính trị, nhưng là những tài liệu rất quư cho những nhà học về tâm lư trên lịch sử và chính trị. Người ta muốn công nhiên một cách mâu thuẫn bá chiếm cả thế giới, nhưng mà người ta c̣n cần hiệu triệu, thứ nhất là cần đánh lừa. Hitler nói: "đánh bạc" là thế.

Họ đề pḥng hết cả, dự kế hết cả, nhưng mà có một thứ ác hại nhất, lớn lao nhất, và đại địch nhất của hết thảy thắng trận là sự thất bại trên ḥa b́nh một cách đau đớn. Những trào lưu anarchy về kinh tế, xă hội, văn hóa và tâm lư sẽ chạy từ những nước thắng trận ra ngoài để gặp những sự thực anarchy đă h́nh thành trên khắp các nước bại trận đưa đến sự đóng cơi và phản tỉnh cần cho mỗi nước. Cuộc đấu tranh thực tế của các nước nhỏ yếu lúc bấy giờ mới thành tựu nổi lên. Tàu sẽ trở về một cuộc nội loạn và ngoại hoạn để có thời gian cho Á Châu sống lại.

Họ sẽ thắng lợi trên chiến tranh, nhưng sẽ thất bại trên ḥa b́nh, cái thất bại mạn tính (chronique) tới ba, bốn mươi năm, nó cần họ tự cứu tế một cách khổ nhọc và đau đớn như bị chứng thần kinh suy nhược.

Các dă tâm, âm mưu, mắc lên những cơ quan và kế hoạch sẽ đổ sụp. Loài người bằng sự phản tỉnh và phục hoạt sẽ tu chỉnh lấy lịch sử của ḿnh.


III-4- PHỤC HOẠT VIỆT ( Renaissance Việt)

Có những bờ đê chắc chắn ngăn be hết sức chảy của ḍng nước, để ḍng nước ấy từ trên nguồn sa xuống, hợp với lượng nước ba bảy sông ng̣i dồn lại đóng vạnh đáy và bằng luồng sóng đáy sùng sục nổi lên, chọc thủng hết, phá vỡ hết, để theo ḍng chảy của ḿnh.

Đời sống lịch sử của một ṇi giống cũng vậy. Từ 1940, ṇi Việt có thể nói, bốn bề đều là quân địch hay là sức can thiệp tới quyền lợi và đời sống Tổ Tiên với con cháu tối thiêng liêng của ḿnh và bởi những bàn tay với những ư chí ô uế nhúng nhớp vào để sẽ chạm vào đáy hồn và danh dự của chúng ta. Lúc ấy, từ bốn phía quân địch đó, ở trong khói lửa và bụi bặm, chúng ta sẽ vạch ra, chọc thủng và phá toang con đường đi. Con đường đi ấy là lối sống chính trị và lịch sử trên quốc dân và thế giới của chúng ta, Vạn Thắng như Vạn Thắng ngày xưa, mà tiến lên mục tiêu của dân tộc.

Sự Phục Hưng đi đôi với sự Phục Hoạt

Máu đi liền với ánh sáng của óc.

Phục hưng và phục hoạt đều từ trên nền tảng bản thân của xă hội ta trong kết cấu của nó phối hợp với những điều kiện yêu cầu của dân chúng và thủy chuẩn của văn hóa ta, suy động trong tiềm năng, tiềm thức mà đột hiện lên bởi cái để uẩn sâu sắc của nhân chủng.

Sự phục hưng và phục hoạt của chúng ta trên tính chất quy định của nó là đột biến, đặc biến và thuế biến.

Bởi đột biến cho nên phục hưng và phục hoạt mới anh hùng

Bởi đặc biến cho nên phục hưng và phục hoạt mới sản sinh ra một văn minh mới, bằng cái văn minh ấy sẽ xây dựng một xă hội và thời đại mới.

Bởi thuế biến cho nên sự phục hưng và phục hoạt mới dân tộc, mới Việt. Lư tưởng Việt như đóa hoa thơm mọc từ sâu xa trong đáy hồn của Tổ, đáy tầng của Dân và đáy ḷng của Sử.

Sự phục hưng và phục hoạt ấy là Duy Dân Thắng Nghĩa diễn ra bằng một ḍng nghệ thuật tất cả những điệu nhịp sống của Viêm Việt Vạn Thắng.


III-5- THẮNG NGHĨA

 

Trong cái sứ mệnh lớn lao và đột nhiên như lời Đức Chúa ban cho Moise nào sai ra cứu thế, phục hưng và phục hoạt bằng tất cả và là tất cả. Một Lẽ Sống trên Lẽ Thật, một Đường Sống trên Đường Thật chỉ vạch ra, dựng dơi lên, rồi lại xây đắp thành một thực thể của lư tưởng, tự trong phản ảnh ra huy hoàng tất cả một văn minh và làm sùng sục sôi tất cả một nguồn sống máu.

Chủ trương thời đại không đủ, phát quật và phát huy được cái để uẩn của một văn hóa để cho người ta sống no và sáng mới đủ.

Chủ trương thời đại không đủ, phải nắm giữ và vận dụng được cái căn cứ của một cái chủ trương đó mới có ích.

Chủ trương thời đại không đủ, phải có được các đồ lề tinh thần và phương pháp học thuật để t́m vạch ra, nó mới chắc chắn và sáng láng. Lại c̣n phải có đủ các vũ khí của ư thức để pḥng vệ cho nó, chỉ huy nó trên mặt trận, bổ thụ cuộc thắng trận cho nó mới đạt được tới một hiệu quả của dự cầu nào của nó đấy.

Cách mạng, chính trị và kiến thiết phải nối liền và hợp nhất vào một tinh thần và luật tắc chỉ huy nó, vận dụng nó, nắm giữ nó và hiểu biết nó.

Lư luận và thực tiễn phải thống nhất trên một lư tắc trọn vẹn, không chướng ngại, không bẻ vặt, không phụ họa và gia giảm.

Thắng lợi phải nắm giữ được thực thể rồi trước khi ra trận.

Họ đă thắng lợi trên chiến tranh nhưng rồi thất bại trên ḥa b́nh. Nếu dân tộc ta không có một nhỡn quang sáng suốt th́ hoặc cũng sẽ được thành công trên cách mạng nhưng tất sẽ thất bại trên kiến thiết, hoặc sẽ được thắng lợi trên kiến thiết mà thất bại trên chính trị.

Cách mạng, kiến thiết và chính trị cần phải có hướng thượng, cần hơn cả sự thành công chợp qua. Chủ trương của thời đại có thể thành công nhưng kiến thiết và duy hệ sự kiến thiết và kéo dài sự kiến thiết ấy trên hướng thượng, tức là chính trị không được chỉ đạo bằng cả một để uẩn của lịch sử và cả một thể hệ của triết học, khoa học với thuật học, thống nhất, sâu dày, đầy đủ, cặn kẽ, đúng đắn và tiến bộ th́ thế nào cũng thất bại.

Chúng ta c̣n phải lấy một con mắt công, con mắt thời đại, nhân loại và lịch sử, con mắt của khoa học khách quan mà phán đoán, đừng để bị che lấp bởi ư thức h́nh thái của một thể chế xă hội và văn hóa nào mà bỏ mất lập trường siêu nhiên và thiêng liêng, nó c̣n là một quyền lợi của trí tuệ hưởng dụng, của sức phán đoán quyết định và hành động. Chỉ có khi nào ta tự làm chủ, đừng để trụt xuống làm tôi đ̣i trước cái ư thức và văn hóa, chúng ta mới thực biết làm chủ của vũ trụ, văn hóa, xă hội, văn minh và thời đại. Cho nên chúng ta đừng v́ đi học Anh, Nga, Mỹ, Đức, Ư, Nhật, Pháp, Tàu mà vội vàng đứng vào lập trường những người đó, đối với sự vật ǵ, trên nơi nào và thời nào vội buông lời phán đoán, hay vội đứng sang chủ trương ḿnh.

Hiểu tức là nghiệm, đuổi theo. Như thế hiểu một thời đại, nghĩa là phải lấy con tâm và con mắt lịch sử, nghiệm qua các thời đại để mà đứng trên nền tảng với điều kiện đó để mà hiểu thời đại đó. Lại c̣n hiểu một văn hóa nơi nào, nghĩa là phải lấy con mắt và con tâm quốc tế nghiệm qua các văn hóa mọi nơi để mà đứng trên nền tảng và điều kiện văn hóa nơi ấy mà hiểu. Tức cũng như hiểu một người nào, cần phải đem con mắt và con tâm để nghiệm trải nhân t́nh, thế cố, mà đứng trên nền tảng, điều kiện và lịch tŕnh đời sống người đó mà hiểu.

Chúng ta cho nên, để mà phục hưng và phục hoạt, phải lấy một con mắt nghiêm ngặt Việt, đứng siêu nhiên trên lập trường Việt, thi thiết bằng những chính sách và kế hoạch siêu nhiên và nghiêm ngặt Việt, có một thái độ nghiêm ngặt và siêu nhiên lịch sử Việt. Như thế th́ khoa học phục tùng chúng ta, triết học, thuật học và lịch sử phục tùng chúng ta để chúng ta trên nền Người uốn bắt cho cái danh nghĩa và sự cố Việt phục ṭng danh nghĩa và sự cố Người (cause humaine).

Dù sao phải có một ư thức thực tại và khách quan.

Lư tưởng tự đó mà mọc rễ, ăn sâu trong để uẩn của lịch sử vận hành. Duy Dân chủ nghĩa, nghiêm ngặt trong ư nghĩa Việt trên cách mạng, chính trị và kiến thiết của Tiểu Việt và Đại Việt, khoan đại trên ư nghĩa Người trên triết học, khoa học và thuật học, hiệu lực trong ư nghĩa công cụ, phương pháp và vũ khí của văn hóa.

Duy Dân chủ nghĩa là sự phục hưng và phục hoạt tất nhiên và tiên tri cho nên gọi nó là Thắng Nghĩa, nghĩa là thắng hết các chủ nghĩa, vạn thắng cả trên vật chất lẫn tinh thần.


III-6-TAM DÂN


Người Á Đông, nhất là những người trong hệ văn hóa chữ Nho, ai đă đi, tất biết đến chủ nghĩa Tam Dân mà Tôn Văn, người sáng tạo ra nó, gọi là một chủ nghĩa cứu quốc c̣n là một chủ nghĩa cứu thế giới nữa.

Nhiều nhà cách mạng Việt ca tụng và sùng bái cái chủ nghĩa này lắm.

Người Tàu đă tôn Tôn Văn lên làm quốc phụ, chủ nghĩa Tam Dân c̣n là những "nguyên tắc quốc sách tối cao" đủ biết thế nào.

Người Tàu c̣n chực dẫn dắt một cuộc vận động ở Tàu gọi là phong trào quốc tế của chủ nghĩa Tam Dân.

Tôn Văn lại c̣n được người ta tôn là đạo sư của cách mạng cho các dân tộc nhỏ yếu, cố nhiên chủ nghĩa Tam Dân phải ở địa vị chỉ đạo rồi.

Nhưng mà cái thùng "tả pí lù hẩu lốn" đó, người Tàu lại đánh cho kêu, rồi lại la ḥ rối rít, đối với thế giới phải nên coi đó như trẻ con ta đánh cái mẹt để cứu mặt trời khỏi bị mặt trăng ăn mà thôi (nhật thực).

Tam Dân có thế giới tính? Đó chỉ là một chủ nghĩa của một dân tộc, trong sự thật rất nghiêm ngặt của các phụ tính của dân tộc, nhất là dân tộc Hán trên con đường phát triển của nó bằng những nền tảng và điều kiện thời đại quy định ra nó sẽ có những đặc tính của ṇi giống và đặc điểm của lịch sử kết hợp nên mà làm kim chỉ nam của một chính trị lộ tuyến đặc thù.

Nó là một chủ nghĩa dân tộc, dân quyền với dân sinh, chẳng qua là những chính trị h́nh thái, chính trị kiến trúc và chính trị quy tắc trong nội bộ của chủ nghĩa dân tộc của ṇi Hán đi lên đường. Chủ nghĩa ấy là chủ nghĩa ǵ? Đúc các dân tộc vào một ḷ để thống nhất thế giới (Tam Dân giảng). Bằng cách ǵ? Chủng tộc xâm lược hay bằng chủng tộc vũ khí như ngh́n xưa. Chủ nghĩa ấy sản sinh ra một xă hội h́nh thái ǵ? Dân quyền là một thứ quốc dân dân chủ chuyên chính mà một đảng (phải là Quốc Dân Đảng Tàu) cầm quyền măi. Dân sinh là một thứ quốc gia tư bản cực quyền mà bọn tài phiệt và nho sĩ phải làm trung kiên. Thứ chủ nghĩa ấy đi đôi với sự lũng đoạn chính trị của Tưởng Giới Thạch và bọn đầu trùm Quốc Dân Đảng (quân, tài phiệt) đă thành ra một cái chiêu bài nhân đạo rất lớn ví như cái mạng nhện mắc chết bao nhiêu con ruồi vong quốc Việt, Hàn. Lại, trên chính trị hiệu triệu khoáng trương dân tộc ra đến quốc tộc, từ quốc tộc đến quốc quân, chia xâm lược lộ tuyến ra tám đường diệt vong dân tộc nhỏ yếu.

Tam Dân trên chính trị là một học thuyết như vậy. Nếu lấy ư nghĩa đúng đắn của triết học mà nói, nó khó thành và khó đáng gọi là một chủ nghĩa. Nó chỉ có thể gọi được là ba nguyên tắc quốc gia xă hội, mặc dầu kẻ sau hết sức nối liền Tam Dân với học thuyết Khổng Tử và truyền thống của Tàu, nó biểu hiện rơ rệt trong cái thời đại khô khan v́ dă tâm, một chứng bệnh bẩn óc rất ghê gớm. Những lư tắc duy sinh nằm trong Kinh Dịch và Trung Dung được phát quật lên để hàn liền chủ nghĩa duy sinh với triết học duy sinh mới (Trần Lạp Phu) và cũ (Kinh Lễ, Lễ Vận) của Tàu để mà lại lúng túng với sự gắn khớp những nguyên lư đó với dân tộc và dân quyền mặc dầu Tàu vẫn tâng bốc Tam Dân là có liên hoàn tính. Lại sự hấp thụ ăn không nhai kỹ và tiêu hóa không thông đối với các khoa học mới đem dính vào sau Tam Dân trông càng mâu thuẫn, đeo càng lẵng nhẵng, tất cả những cái đó càng làm cho óc người Tàu không có một hệ thống và tổ chức được mà thôi. Sự phát minh kiến thiết giai đoạn luận của Tôn Văn có thể ví như sự phát minh cách mệnh giai đoạn luận của Lénine, chỉ là những liều thuốc cứu cấp cho một học thuật với một dự kế không trọn vẹn, tự trong mâu thuẫn nó làm hư phí cả tinh nghĩa của biện chứng đó đi.

Nói tường tế về Tam Dân hoặc có một dịp khác, đây cần nói, chỉ là phê phán qua chơi những điều muốn để cho quốc dân chú ư, nhất là hiện giờ đây có một tụi người Việt có thể gọi là Việt gian làm tay sai cho chính trị mục đích của người Hán, cam tâm dịch chủ tái nô. Bọn ấy tự xưng là tín đồ của kẻ chực đến xâm lược đất đai ông cha chúng ta mong ḥng để báo ơn mẫu quốc và đưa dắt Tam Dân về phía Nam, mở mang thêm những lănh thổ mới kỳ cho "pḥng tuyến của dân tộc Hán suốt từ Úc Châu đến Tân Gia Ba ở phía Nam đó".




Tôn Dật Tiên (chữ Hán: 孫逸仙), c̣n gọi là Tôn Trung Sơn (孫中山), (12 tháng 11 năm 186612 tháng 3 năm 1925) là nhà cách mạng dân chủ Trung Quốc, người lănh đạo cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 lật đổ triều đại Măn Thanh và khai sinh nước Trung Hoa dân quốc. Ông được người Trung Hoa gọi yêu mến là "Quốc phụ Trung Hoa".

Ông sinh ở tỉnh Quảng Đông trong một gia đ́nh nông dân khá giả. Năm 13 tuổi, ông đến học ở Honolulu (Hawaii) v́ có người anh buôn bán ở đây, ở đây ông học các trường tiểu học và trung học nên chịu ảnh hưởng rất lớn của phương Tây. Năm 1883, ông trở về nước, theo học trường Đại học Y khoa Hương Cảng và trở thành bác sĩ. Tuy nhiên sau đó thấy t́nh cảnh đất nước bị các đế quốc xâu xé, ông bỏ nghề y theo con đường chính trị.

Năm 1894, Tôn Trung Sơn sang Hawaii tập hợp Hoa kiều cùng chí hướng thành lập Hưng Trung hội với tôn chỉ đánh đổ phong kiến Măn Thanh, khôi phục Trung Hoa. Năm 1905, Tôn Trung Sơn hợp nhất Hưng Trung hội với một số tổ chức trong nước lập thành Trung Quốc Đồng minh hội do ông làm Tổng lư. Trên tờ Dân báo, cơ quan ngôn luận của hội, ông đă công bố chủ nghĩa Tam dân: "Dân tộc độc lập, dân sinh tự do, dân quyền hạnh phúc". Từ 1905 đến năm 1911 Trung Quốc Đồng minh hội tổ chức nhiều cuộc binh biến ở các tỉnh miển Nam nhưng không thành công. Ngày 10 tháng 10 năm 1911, Đồng minh hội vận động được binh sĩ ở thành phố Vũ Xương (Hồ Bắc) nổi dậy khởi nghĩa và giành được thắng lợi mở đầu cho Cách mạng Tân Hợi. Phong trào này nhanh chóng bùng nổ ở nhiều tỉnh khác. Ngày 24 tháng 12 năm 1911, Tôn Trung sơn về nước, được đại hội đại biểu các tỉnh họp ở Nam Kinh đề cử làm tổng thống lâm thời.

Ngày 1 tháng 1 năm 1912, ông tuyên thệ nhậm chức Tổng thống lâm thời Trung Hoa Dân Quốc tại Nam Kinh. Nhưng một tháng sau, ông nhường chức này cho Viên Thế Khải với điều kiện Viên Thế Khải bắt vua nhà Thanh thoái vị để thành lập chế độ cộng ḥa nhưng Viên Thế Khải đă phản bội, đàn áp lực lượng cách mạng.

Ông là một nhà triết học, ông lấy triết học để chỉ đạo cách mạng. Sau khi từ chức ông nghiên cứu triết học và có sáng tác tác phẩm Học thuyết Tôn Văn với trọng tâm là "biết th́ khó, làm th́ dễ". Vợ thứ hai của ông là Tống Khánh Linh, sau này cũng làm Chủ tịch danh dự nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa. Con trai ông (với người vợ đầu Lô Mộ Trinh hay Lư Mộ Trinh (盧慕貞) là Tôn Khoa (孫科; Bính âm: Sūn Kē) sau này làm Thủ tướng Trung Hoa Dân Quốc.

Ngoài hai vợ trên, theo Trung Quốc sử thoại, ông c̣n quan hệ gắn bó với "bà Nam Dương" Trần Túy Phần, sau đổi tên là Trần Tứ[1].

Ông đă nêu ra chủ thuyết "Tam dân" (dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc). Ông được dân chúng Trung Quốc gọi là "Quốc phụ" (người cha của đất nước).






Tưởng Giới Thạch (31 tháng 10, 18875 tháng 4, 1975) là một quân sự gia và chính trị gia của Trung Quốc cận đại, lănh đạo Trung Hoa Quốc Dân Đảng năm 1925, sau cái chết của Tôn Dật Tiên.

Sau thất bại của Quốc Dân Đảng năm 1949, lănh đạo Chính phủ và Quốc dân đảng ở Đài Loan, Tổng thống (1950) và Tổng chỉ huy Quân đội của Chính phủ Trung Hoa. Chính phủ Tưởng Giới Thạch là thành viên Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc trong thời gian dài, tuy nhiên vào ngày 25 tháng 10 năm 1971 đă bị thay bằng Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa.

 

̀̀I-7- DÂN CHỦ

Thanh niên lấy làm vinh dự để nói đến dân chủ. Dân chủ ví như thần thánh "homo res sancta homini", dân chủ là h́nh ảnh giàu có, b́nh đẳng và khoa học.

Căn cứ của chủ nghĩa dân chủ là chủ nghĩa cá nhân. Cho nên dân chủ chính thể là kết quả chính trị của chủ nghĩa cá nhân đó. Trong nước dân chủ phải có tiền mới b́nh đẳng và sinh sản phải tùy khoa học phát minh mới tiến bộ. Chế độ tư bản dân chủ cố nhiên khi đầu mới thay thế cho xă hội phong kiến thực là cứu thế, nhưng đi đôi với tiến hóa của lẽ vô thường, từ thương nghiệp tư bản tiến lên công nghiệp tư bản làm cho trong nước giai cấp ly chia và chính trị đảng tranh. Lại từ công nghiệp tư bản tiến lên đến kim dung tư bản, sự cần dùng thị trường nảy nở ra đế quốc thực dân, từ đó đến quân hóa tư bản gieo rắc chiến tranh cho thế giới. Đến mạt kỳ này, chế độ dân chủ xấu nhất, nó làm cho nhân chủng linh lạc, gia đ́nh linh lạc, cá nhân linh lạc, ở đó mà quốc gia linh lạc.

Sự cần yếu cho tái sinh sản của tư bản nảy nở ra các h́nh thức bế quan tỏa cảng lối mới như khối Pound, khối Monroe, khối Yen và khối Franc càng suy động cái dục vọng diệt chủng vong quốc người khác bằng vũ khí kinh tế, và ở đó chiến tranh; cũng ở đó là nguyên cớ chiến tranh chân thực của kỳ này.

Vật hỏng tất phải chữa. Wallace đề xướng ra lối dân chủ mới trên truyền thống dân hữu, dân hưởng, dân trị cũ của Mỹ. Dân chủ mới có năm điển h́nh là: chính trị dân chủ, kinh tế dân chủ, giáo dục dân chủ, dân tộc dân chủ và nam nữ dân chủ.

Tất cả các kỹ thuật cần dùng để xây đắp đời mới ấy, tác giả không nói ngoài những phương án ḥa b́nh của quốc tế, nó họa may ấn định được đời sống dân chủ đó.

Thế nhưng dân chủ phải gồm các điều kiện toàn dân trực tiếp, tập trung và chân thực, dân chủ ấy mới có thể vững chắc được. Muốn thế, ta không thể đề xướng ra một chủ nghĩa dân chủ mới rỗng tuếch như trên. Ta phải t́m đến tận cội rễ xă hội của nó mà chữa. Cho nên lư tắc của dân chủ là "làm nghĩa vụ đi để hưởng quyền lợi" (droit et devoir). Song ta thấy nghĩa vụ không ch́u người. Muốn phục vụ hết nghĩa vụ, không có chỗ để giả nghĩa vụ đó. Cho nên phải có một lư tắc của dân chủ mới: "Có cơ hội đó, làm nghĩa vụ đi để hưởng quyền lợi" (chance, droit et devoir). Tất yếu xă hội phải hoàn thành cái chế độ hiện thực của cơ hội quân đẳng, nghĩa vụ quân đẳng, quyền lợi quân đẳng mới có thể có được đời sống dân chủ trực tiếp, chân thực, toàn dân tập trung, thống quy dưới một h́nh thái xă hội có lư tưởng, phương châm, tổ chức và quy tắc, nghĩa là phải có một kế hoạch dân chủ, hay là một dân chủ xă hội hóa.

Xă hội là một tổ chức nhân tính. Sự điều khiển nhân sinh phải bằng một chính trị có một tác dụng tích cực là thiết kế và chấp hành đi đôi với một giáo dưỡng trọn vẹn và đầy đủ, là khởi điểm và chung điểm của cái chính trị đó. Cho nên một kế hoạch dân chủ và một chế độ dân chủ xă hội hóa trọn vẹn là xây đắp trên nền tảng của những nguyên lư và quy tắc của b́nh sản kinh tế. Chỉ có thế ư nghĩa xă hội hóa mới đạt được những hiệu quả dự định của nó trong phạm vi khoáng đại của nhân loại; có thế, hiệu suất của đời sống loài người mới một ngày một tăng tiến theo cách thức và nguyên tắc của nhân loại học. Chế độ b́nh sản kinh tế phải phối hợp với một kết cấu xă hội hoàn toàn dân chủ theo hết ư nghĩa rộng của nó.

Dân chủ làm cho loài người bất tri bất giác thực hành chính trị dân chủ trong cái tinh thần và tác dụng tối cao và sung sướng của vô chính phủ.

Một kế hoạch dân chủ phải làm trên sự phối hợp chặt chẽ cái tinh thần của vô chính phủ, mới là dân chủ chân chính.

III-8- CỘNG SẢN

Nhằm vào thời đại Âu Châu thống trị tê liệt dưới máy móc và giai cấp chia rẽ mà sản sinh ra cái triết học duy vật đầy sáng kiến và cũng nhiều sai lầm đó. Nếu kể lịch tŕnh tiến hóa tới nay, triết học ấy đáng là lạc hậu non 100 năm rồi, nếu ngày nay phải nhắc lại mà phê phán đó là v́ cuộc cách mạng 17 với tất cả những thất bại của đệ nhất, đệ nhị, đệ tam, đệ tứ quốc tế, với cộng sản đảng các nước. Bao giờ xă hội c̣n giai cấp, tất c̣n những hiện tượng với sự đấu tranh của nó. Căn cứ của chủ nghĩa cộng sản là lao động giai cấp đại chúng, đó là ư nghĩa xă hội có thể gọi như một ư nghĩa chuyên môn. Trong giai cấp đó, đại thể chia ra nông dân với công nhân, nông dân đông hơn mà công nhân ít hơn; ở đó chia ra cái mâu thuẫn mà là cái nhược điểm chí tử cho chủ nghĩa vậy, mà cũng ở đó khởi nêu cái ư nghĩa chua chát của cái giai cấp ở trong có nội tại mâu thuẫn, gây lên một sự phân hóa đau đớn giữa vương giả lao động, quư tộc lao động, b́nh dân lao động, lao động các nước lớn, nước công nghiệp, nước thực dân đối với lao động các nước nhỏ, nước nông nghiệp và nước thuộc địa. Không những thế, sự phân hóa ngay trong trận doanh cộng sản trên vấn đề giai đoạn cách mạng, vấn đề chủ lực cách mạng giữa nông và công, chủ lực kiến thiết giữa nông và công, một phần lớn đi đến thất bại, trên sự thực của đấu tranh đă vùi dập dần dà từ đệ nhất cho đến đệ nhị, đệ tam rồi đệ tứ quốc tế.

Sự thất bại trên sự thực của đấu tranh đó gây nên chủ yếu là bởi sự sai lầm lớn lao của duy vật biện chứng pháp: nó chia rẽ hẳn lư luận với thực tiễn trong quá tŕnh thực tiễn của thể nghiệm lịch sử, đồng thời nó không thể giải nghĩa một cách đúng đắn và nắm giữ với vận dụng một cách thiết thực tất cả những động cơ của lịch sử với luật tắc của tiến hóa nhân loại.

Bởi cái bối cảnh phát sinh của chủ nghĩa cộng sản là thời đại của Anh, Mỹ, cho nên cái nền tảng xây dựng của xă hội vô quốc gia đó cũng phải tùy tính chất công nghiệp mà đặt trên một thế giới hoàn toàn cơ giới hóa, công nghiệp hóa và điện khí hóa.

Cái mục đích của chủ nghĩa ấy như mọi cái tưởng tượng, tư tưởng và không tưởng xă hội loài người cố nhiên là tuyệt đối, là thiện mỹ nhưng tất cả một thể hệ từ lư luận và thực tiễn trên triết học, khoa học và thuật học của cách mạng, kiến thiết và chính trị phải cho hiện thực và lại lư tưởng mới có thể thực hành được.


Kinh nghiệm của cách mạng 17 tỏ ra cách mạng của cộng sản chủ nghĩa là thất bại. Chính sách kinh tế mới đối với ba kỳ 5 năm kế hoạch đi theo với sự đi quay về dân tộc tự lực, tự vệ và tự quyết chủ nghĩa của Staline, sự tu chỉnh các chương tŕnh của đệ tam quốc tế tỏ ra kiến thiết của cộng sản cách mạng là thất bại.

Sự bị lôi cuốn vào chiến tranh, sự phân hóa trong nội bộ, sự miệt thị các phân chi bộ coi như tung đội Nga, sự xâm lược các dân tộc nhỏ yếu chung quanh tỏ ra chính trị của chủ nghĩa cộng sản là thất bại. Sự giải tán đệ tam quốc tế là một sự kiện quan trọng có những nguyên nhân lịch sử và xă hội học, ta cần phải phát biểu càng tỏ cộng sản cách mạng là sai lầm. Thời đại bối cảnh của sự giải tán ấy trông vào:

1) Nội tại luật tắc của cuộc kiến thiết Nga Sô Viết xu hướng dân tộc tự quyết.

2) Nội tại luật tắc của cuộc chiến tranh hiện tại ở trong trào lưu sô đẩy trên cái nền tảng giai cấp ngày nay.

3) Nội tại luật tắc của bản thân đoàn thể đệ tam v́ các xu hướng về các cuộc vận động trên h́nh thái dân tộc của mỗi cộng sản đảng mỗi nước.

4) Áp lực của Anh, Mỹ với nhu yếu về chiến lược của Nga Sô bắt buộc trong thời kỳ ái quốc chiến với Nazi này.

5) Nhưng cũng coi là một vẻ mặt và một chính sách "lui một bước lên hai bước" một khi hoặc do trận này dẫn khởi rối ren, hoặc chậm sau khi thế giới này có thể đă bị thống trị dưới một trận doanh quốc tế nào nhân là thời cơ thành thục lại có thể xuất hiện ra bằng h́nh thái đệ tam quốc tế sau năm năm, không th́ mười năm.

Đó là lối xem của Duy Dân chối bỏ duy vật biện chứng, nó tự bị đào thải trong đường trường của lịch sử thế giới và xă hội sống thực tiễn, dân tộc là bản vị, giai cấp là cơ năng, sự sống non một trăm năm nay càng chứng tỏ như thế. Cho nên thế giới lao động cách mạng quyết định là thất bại, có khi nó bị chết nghẹt ngay trong thai nghén, có khi nó đẻ non ra.

Cái chết của Trotsky càng chứng tỏ như thế.


III-9- B̀NH QUÂN

 

Được gặp các đồng chí lĩnh đạo trong Đại Việt Dân Chính Đảng nên được hiểu thế nào là sinh hoạt b́nh quân chủ nghĩa. Tuy hiện nay các đồng chí ấy đă gia nhập vào bản đảng phụng hành Thắng Nghĩa, sự phê phán không phải là nói xấu, nó c̣n là những lời cảnh tỉnh, cho nên ng̣i bút của tôi không làm khách được trước chân lư.

Sinh hoạt b́nh quân chủ nghĩa chỉ có hai yếu điểm: đối bên trong làm cho xă hội sống đều không có giai cấp, để đối bên ngoài tranh đ̣i lấy một đất sống với thế giới cho dân không bị thiếu thốn. Tiếng chuyên môn của chính trị địa lư là sinh tồn không gian (espace vital).

Chủ nghĩa b́nh quân muốn căn cứ vào ṇi giống hiện tại để lập một ṇi giống tương lai. Qua giọng nói của các nhà lĩnh đạo chủ nghĩa ấy th́ không cần suy diễn lịch sử hay nguyên lư mà chỉ cần đến những phương án thực tiễn và bàn tay sắt là đủ. Sự thành lập đệ tam Đại Việt (Lư Trần là đệ nhứt, Lê là đệ nhị), cũng na ná như sự thành lập của đệ tam Reich. Sự tranh đ̣i không gian làm bằng thủ đoạn luồng sóng di dân (vagues démigration) tức là thủ đoạn vũ khí phát xít hay nazi của thực dân địa. Xă hội làm sống đều bằng thủ đoạn và vũ khí độc tài.

Chủ nghĩa ấy và đảng ấy, từ học thuyết đến tổ chức và h́nh thức (như hay dấu hiệu), đều quy định ra trước bởi các thầy nazi và phát xít. Thủ đoạn cũng noi theo, không có chi thay đổi.

Ḷng ái quốc của thanh niên nhiều khi vô lư, nhiều khi bồng bột, nhiều khi lỡ việc, nhiều khi mù quáng: đấy gọi là chauvinisme. Thêm vào chủ nghĩa yêu nước mù mắt ấy, lư tắc thực dụng chủ nghĩa (empirisime) không những đă nông nổi, bộp chộp, phi khoa học, mà c̣n tỏ ra sự nghiệp ḿnh mưu đồ không được dẫn dắt bằng một nhỡn quang cao đại; nó mới xứng để dẫn dắt vận mệnh cả một nước ṇi.

Chủ nghĩa nazi và phát xít không thể thực hành được ở nước ta cũng như thuần dân chủ, thuần Cộng Sản, hay Tam Dân. Cái nền tảng xă hội ta với tất cả các điều kiện văn hóa, kinh tế, khoa học và quân sự không để cho ta, trong con đường quốc tế tương lai, cư xử được theo con đường đó. Kế hoạch đồng nhân của chúng ta chính là một sách lược liên hợp giải phóng của tất cả các dân tộc nhỏ yếu trong Đại Nam Hải cùng một huyết thống Viêm và một văn hóa Môn từ muôn năm về trước, nó là một chính sách cách mạng không phải là một cương lĩnh xâm lược. Chủ nghĩa Duy Dân của chúng ta là phục hưng và phục hoạt ṇi giống với văn minh Tiên Rồng, không phải là chủ nghĩa chủng tộc xâm lược như ṇi Hán, cũng không phải là chủ nghĩa chủng tộc siêu việt như Nhật Nhĩ Man.

Đời sống của quốc dân và dân tộc là toàn thể (trọn vẹn, không vá víu lồi lơm) lại tích lũy (phát triển theo lịch sử), nó như ḍng nước chảy không dứt, luôn luôn bồi chút cái nguồn sống theo nền tảng và điều kiện các thời đại và khơi mở con đường đi, không thể cắt ngang hay cắt dọc lịch sử để lấy đâu làm xuất phát điểm mà đi được cho đến tương lai. Trong cái ḍng sống không dứt ấy, người Việt trong đời sống quốc dân, lịch sử và thế giới ngày nay chỉ có thể nói được: Ta sống cả một muôn năm ở trong ta, lấy sức ngầm đó đứng lên chuẩn bị cho thời đại 2000.

Mỗi chủ nghĩa là tinh hoa của mỗi nguồn sống tập trung lại mà khai hoa. Sự hấp thụ mỗi thứ tinh hoa trên tinh thần giới chung đụng của loài người đó, phải làm như con ong hút nhụy làm mật, chớ như con bướm lượn cành mà chơi, cũng đừng như lũ đồ nho nhai sách Khổng Tử không tiêu hóa, hay lũ đồ Tây nhai sách khoa học không biết phân minh.

Chúng ta chỉ cần mỗi phần trong chủ nghĩa, trong điều kiện lợi ích của dân tộc, châm đối theo nhu yếu của dân tộc trên một tŕnh độ nào và theo một phương hướng nào.

Chúng ta nếu chỉ đi uống thuốc bậy cũng bằng giá trị đi tự tử.

Nhưng nếu chúng ta bắt chước Narcisse tự hoan hỷ với bộ mặt đẹp của ḿnh trên giếng cũng là đi tự tử.

IV-1- LƯ TƯỞNG

Cành lau bắt đầu tham dự vào cuộc sống lịch sử của nước ṇi chúng ta từ thế kỷ thứ X, một vận đổi mới trong tang dâu của Đông Á, nhưng c̣n là một phục hoạt lớn lao của Hồng Lạc với sự dựng lại chắc chắn cái nền tảng vững bền của độc lập cho quốc gia Việt thống nhất. Trong hoàn cảnh gian nan khốn đốn ấy, với bối cảnh chuyển biến gắt gao của quốc vận Việt ấy, cành lau điểm trên thinh không và thời gian một ư nghĩa và giá trị tuyệt vời, cái ư nghĩa và giá trị sống đó đi đôi với sứ mệnh và lư tưởng của Hồn Sử, Tổ gốc gác và đáy tầng Việt.

Cái tên Đại Cồ Việt xuất hiện ra do cành lau, mà bắt đầu từ xung động của hồn lau phát tiết ra hết thảy cái thực thể lư luận của dân tộc. Cành lau dễ mọc và dễ sống trên đồng lầy, giữa thôn quê, trong băi vắng, đi đôi với đời thiếu niên thanh khiết của Đinh Bồ Lĩnh, tỏ lộ hết được đời sống thực tiễn trên xung động thực tiễn của cái lư tính thực tiễn của quốc dân trên lịch sử và thế giới.

Những nhu yếu thực tiễn từ ở những yêu cầu thực tiễn ẩn dấu trong ḍng sống tiềm lưu của b́nh dân, chỉ có đại chúng mới thể nghiệm được chân chính trong đáy hồn chủ nghĩa của dân tộc, dẫn dắt và mở đường cho lịch sử giữa nền tảng của thời đại sứ quân. Cành lau là cờ hiệu chiến đấu của nước ṇi mưu cầu lấy thống nhất và độc lập, vững trong và chống ngoài. Và cờ lau đă thắng hết cả. Cờ lau thắng lịch sử đô hộ hơn ngh́n năm. Cờ lau thắng đô hộ khủng khiếp, thắng đồng hóa dă man, thắng tự trị ươn hèn, thắng chia rẽ diệt vong, thắng uy hiếp trong ngoài, thắng tư tưởng tối tăm, thắng nhút nhát, thắng phản tỉnh không triệt để, thắng tất cả những thất bại và hết thảy những đau đớn của ṇi giống dưới ách nặng nề và ma quỷ của bốn bên, bởi cờ lau là cờ của Vạn Thắng Vương, cờ Vạn Thắng.

Cho nên, cờ lau là cờ của dân tộc Vạn Thắng, b́nh dân Vạn Thắng, chiến đấu Vạn Thắng, thống nhất Vạn Thắng và độc lập Vạn Thắng.

Cờ lau là cờ của Hồn cũ tỉnh lại, Hồn và sóng đáy cuộn lên, cờ giống ṇi của Đại Cồ Việt sống lại, nối dơi cái thế hệ dân tộc đă dứt hơn ngàn năm, xa hơn vạn năm trên lịch sử.

Cờ lau cắm lên giữa giới vạch của lịch sử, khơi mở đời sống mới về vô cùng tương lai, cho hết thảy đời sống anh hùng về tương lai, đă thắng hết cả và cởi mở cháu con ra bằng vinh quang vô thượng. Cờ lau là cờ của một thế hệ mới sinh ra để làm một văn minh mới Vạn Thắng.

Cho đến ngày nay, trên băi hoang, nơi thôn dă, những cành lau phe phẩy trước gió gợn đời đời, c̣n nhắc lại ai oán thuở oai hùng tất cả những sống c̣n oanh liệt cũ, và sau ngàn năm (thế kỷ X-thế kỷ XX) đến ngày nay, giữa lúc ṇi giống muôn vàn nguy cơ, đă vi vu văng vẳng đưa những tiếng gọi xa xăm dần dà gần lại, lanh lảnh vào trong bộ óc và cơi ḷng của các thế hệ đời chúng ta, thức tỉnh trong đáy hồn và đáy tầng một cuộc phục hoạt lớn lao và vẻ vang. Nhưng bông lau chỉ mọc ở xứ nóng, chỉ mọc ở băi hoang, trong biểu tượng của những linh hồn giàu thể nghiệm, nó c̣n nêu dựng h́nh ảnh của muôn ngh́n hồn tử sĩ trên lịch sử bất tử, vất vơ với làn gió, sóng và nắng yêu của bể Nam lớn, đời đời không dứt gọi, kêu, và sống giám thị cho thời thế tang thương!


Cờ lau là Viêm hồn, hồn dân tộc muôn năm của Trăm Việt.

Cờ lau là cờ Cách Mạng hồn và quân hồn của Việt.

Cờ lau là lư tưởng của Sử vinh quang và sống tái sinh.